Bản văn Chầu Bát : 5 lời văn chầu Bát Nàn Tiên La thông dụng nhất

5 bản văn Chầu Bát thường được sử dụng để hát thờ và hát khi hầu đồng giá Chầu Bát Nàn đông nhung đại tướng quân.

Ban van Chau Bat

Gươm thiêng sáng tỏ trung thần
Cờ hồng ra trận lẫy lừng một phen
Trưng Vương xuống chiếu ban khen
Đông Nhưng Đại Tướng Bát Nàn là tên
…Danh thơ Chầu Bát chói ngời
Kiếm vàng gìn giữ đất trời nước Nam

con chim phượng

Khái quát chung về Chầu Bát

Chầu Bát, tương truyền khi ở trần gian có tên gọi là Vũ Thị Nương. Ngài chính là nữ tướng của hai bà Trưng đã có công trong cuộc chiến đấu dẹp giặc Tô Định, vì nghĩa lớn quên thói thường nhi nữ, chăm lo cho dân, thu phục lòng người, sau hiển Thánh lại âm phù giúp nước, giúp dân

Trong thần điện và nghi lễ hầu đồng thì Chầu Bát ngự áo màu vàng.

Đền chính thờ Chầu Bát hiện nay được biết đến nhiều nhất là các địa danh: đền Tiên La ( Thái Bình ). Đền Tân La (Hưng Yên), ngoài ra còn có đền Chầu Bát ở huyện Chi Lăng, Lạng Sơn hay ở Phượng Lâu, Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ), cũng chính là quê hương của Chầu.

Ngày tiệc Chầu là 17 tháng 3 (âm lịch) hằng năm.

Tìm hiểu đầy đủ và chi tiết hơn về Chầu Tám Bát Nàn

Hoa sen vàng

Các bản văn Chầu Bát hay nhất

Dưới đây là những bản văn Chầu hay nhất thường được dùng hát thỉnh trong ngày tiệc và hầu giá Chầu Bát:

Bản văn Chầu Bát số 1

Nổi danh muôn thủa đấng hồng quần
Nữ tài hộ quốc cứu lê dân
Tận trung phò tángôi trung nữ
Phá ách gông cùm lũ xâm lăng

Đuổi tan hán tặc an bờ coi
Trung nữ Vua Bà mệnh đế quân
Thánh nữ thụ tòng ngôi đại tướng
Danh hiển Bán Nàn dạng thiên xuân

Hồn khí Việt muôn đời rạng rỡ
Tự ngàn xưa thiên cổ truyền ghi
Khuôn thiêng hun đúc diệu kỳ

Nổi danh tài tướng nữ nhi má hồng
Cảnh đô hộ non sông cơ cực
Ách bạo tàn Hán tặc Bắc phương
Mà đắng cay thảm thiết thê lương

Hán triều Tô Định bạo cường bất nhân
Bao nước mắt muôn dân đồ thán
Bấy mồ hôi trăm họ lầm than
Thù căm bè lũ nó tham tàn

Nỗi lòng căm giận thét vang tận trời
Cao xanh thấu lòng người tân khổ
Phái thiện thần cứu trợ kíp ngay
Tiên nàng tâu trước cung mây
Nguyện xin giáng hạ cứu rầy dương gian

Mây năm sắc hào quang rực rỡ
Vị tiên cung giáng thụ bào thai
Tuần trăng tháng tám chính ngôi
Khuôn thiêng diệu vận đúc bồi cho nên

Đất Phượng Lâu ấy miền vượng khí
Cửa Vũ gia hạ thế vừa hay
Thung huyên săn sóc đêm ngày
Dung tiên cốt thánh quý thay khác người

So nhan sắc hương trời cung Quảng
Vẻ thông minh tỏ rạng hùng anh
Giận loài Hán tặc hôi tanh
Thù nhà nợ nước sao đành để yên

Đâu luống chịu khổ hèn cơ cực
Chí anh hùng rạo rực khôn nguôi
Giặc Tô tội ác tày trời
Đoạt hoa ép liễu hại người hiếu nhân

Phạm công tử Nam Chân quận trưởng
Ứng duyên lành rồng phượng sánh đôi
Ai ngờ con tạo trêu ngươi
Phượng, long ly biệt đôi nơi phũ phàng

Căm giận loài sói lang Tô Định
Nỗi thù nhà nặng gánh giang san
Phụ thân đã dưới suối vàng
Phạm lang có thấu nỗi tràng này chăng

Nỗi nợ máu lòng hằng báo trả
Lưỡi gươm thiêng trí cả quyết tâm
Tiên La lập ấp chiêu quân
Nữ nhi tỏ rạng hồng quần ai đương

Trưng nữ Vương vẻ nhường khí vũ
Biết Vũ nương nữ chủ phất cờ
Sai quân mời hịch kíp giờ

Ba cây chụm lại lên gò núi cao
Hợp nghĩa binh anh hào các động
Vũ Nương ngài Đại tướng tiên phong
Ra quân sấm dậy uy hùng

Dẹp tan quân giặc, sắc phong Bát Nàn
Ba năm giữ giang san đất nước
Quân Hán càng ngang ngược bạo tàn
Sai quân Mã Viện kéo sang

Lệnh truyền binh tướng sẵn sàng xông pha
Quân kéo về ngã ba Đồng Mỏ
Giặc ngông cuồng cờ đỏ vây quanh
Tiên La phấp phới cờ thành

Nguyện vì nghĩa lớn nhiệt thành quyết tâm
Nguyện quyết tử đền ân xã tắc
Nợ thù nhà son sắc ai hay
Cao xanh có thấu lòng này

Sổ trời biên chép bút mây đã tường
Rừng hoa cỏ tiếc thương thánh nữ
Đất trời cùng tạc chữ hùng anh
Tháng ba mười bảy kỳ linh

Đúng ngày mãn hạn thiên đình chiếu sai
Thụ ơn đức lâu dài tế độ
Dân lập đền thờ tự khói hương
Truyền lưu sự tích tỏ tường

Thánh tiên giáng phúc thập phương ơn nhờ
Phúc lai hưởng thiên thu vạn cổ
Yên dân lành muôn thủa đội ân
Kính thành giãi tỏ chân tâm
Tấu xin bốn chữ : thiên xuân thọ trường

con-hac

Bản văn Chầu Bát số 2

Ai về thăm tỉnh Thái Bình
Nhớ về Bái Yết động đình vua cha
Ai về thăm huyện Hưng Hà
Nhớ vào Bái Yết bát ngàn đại tướng quân

Ngôi đền thờ đại tướng đông nhung
Quê người trên Bạch Hạc ngự miền thượng lâu
Vào những năm trước đầu thế kỷ
Năm 43 khi trước công nguyên

Có người con gái ở miền Thượng Lâu trên Bạch Hạc
Chầu bà tự nhiên kéo về
Chầu nặng lòng son thu nhà nợ nước
Cùng Trương Vương cất bước tiến lên

Phất cờ vung kiếm mở đường
Ra tay quét sạch những phường gian tham
Bỗng cơn gió núi mưa ngàn chuyển
Ầm ầm binh mã kéo về Tiên La

Vào chùa lễ phật di đà
Sử kinh binh pháp mượn đà náu nương
Nơi cửa phật sớm tối đèn hương
Chí toan mưu lớn tìm đường cứu dân

Vào buổi sáng mùa xuân năm ấy
Năm Nhâm Dần 17 tháng 3
Nghĩa quân đứng chặt quanh bà
Đang nghe lời hịch chầu bà truyền ra khắp vùng

Quân Tô Địch nó ầm ầm kéo tới
Phát gươm đao phơi phới cờ bay
Bốn bề khép chặt vòng vây
Lòng sâu kế hiểm nó ra tay hại người

Nữ chầu bà quyết không sa tay giặc
Hô nghĩa quân quyết chiến xông ra
Kiếm cung trận mạc xông pha
Việt Nam thủa dưới quyền Đông – Hán

Giang sơn ta ảm đạm thê lương
Giận thay Tô Định bạo cường
Đem quân giày xéo quê hương cõi bờ
Thủa bấy giờ có nhà họ Vũ

Nảy chồi lan một nụ xinh tươi
Nhụy phong, trăng khuyết tuổi mười
Thơ văn xem cũng ít người khôn so
Lực cử đỉnh dành cho nữ kiệt

Đường kiếm hoa khoanh nguyệt rạch mây
Tuổi xuân vừa độ trăng đầy
Môi son má phượng, má hây tuyết hồng
Nét ngọc tring sánh cùng trăng nước

Tô Định kia muốn ước duyên hài
Từ thân quyết một liều hai
Lẽ đâu lại gả cho loài súc sinh
Tô Định nổi bất vình sấm sét

Sai chặt đầu Vũ Chất làm đôi
Máu hồng lòng trẻ sục sôi
Thét đòi nợ máu vung đôi kiếm thần
Máu thù ngập đôi chân nữ kiệt

Tấm áo xanh màu huyết phủ Giầy
Tay thần phá mấy vòng vây
Gót tiên mải miết trời mây tối dần
Băng tới bến thấy thuyền nan nhỏ

Đôi kiếm thần thuận gió chèo bơi
Lệ sầu gieo rải sông xuôi

Hoa sen vàng

Bản văn Chầu Bát số 3

Đất nước bốn nghìn năm lịch sử
Biết bao trang kiệt nữ anh hùng
Đôi vai nghĩa nước tình chồng
Phất cờ đuổi giặc chiến công lưu truyền.
Năm bốn ba kỉ nguyên thứ nhất
Đông Hán tràn sang cướp nước ta
Tội gây trời đất không tha
Sát phu cướp phụ bao nhà nát tan
Dân khắc khoải ngày đêm mong mỏi
Ai người lo đánh đuổi thù chung
Phượng Lâu đất ấy vua Hùng
Có ông Vũ Chất vốn dòng nho gia
Nghề thang thuốc gần xa độ nạn
Hoàng Thị Mầu kết bạn trăm năm
Quỳnh giao hoa nở một bông
Ông bà thỏa nỗi năm mong tháng chờ.
Tấm hình hài trẻ thơ đẹp đẽ
Gai hay trai cha mẹ sinh ra
Ông bà bàn lại tính qua
Đặt con gái quý tên là Thục Nương.
Vẻ trang nhã hiện lên khuôn mặt
Tóc mây xanh da ngọc môi hồng
Mày ngài mắt phượng lưng ong
Ánh hoa pha tuyết đẹp lòng mẹ cha.
Mười sáu tuổi say sưa nghiên bút
Trí thông minh học một biết hai
Kinh thư thơ phú văn bài
Thư văn bầu bạn bao người mến thương.
Mười tám tuổi làm thơ yêu nước
Vạch mặt phường xâm lược bất nhân
Khổ đau đói rách nợ nần
Hay đâu số phận thiên đình định cho.
Vì Đông Hán mưu mô xảo trá
Kéo quân sang cướp của giết người
Gây lên tội ác tầy trời
Thái thú Tô Định chính người chủ mưu.
Bắt dân mò ngọc trai đáy bể
Lên rừng tìm vật quý cống dâng
Ngà voi, tê giác, hươu nhung
Bóc rầm mưa nắng, thân quằn đòn roi.
Dòng thơ hay bao người đón đọc
Chỉ mong sao xóa sạch bất công
Chỉ mong xóa hết nợ nần
Chỉ mong sớm thoát khỏi vòng xâm lăng.
Phạm Hương chức Nam Chân quận trưởng
Lẽ thương dân sống dạ cơ hàn
Tuy rằng mũ áo xênh xang
Nhưng lòng thanh bạch chẳng làm điều nhơ.
Được Vũ Công ưng cho làm rể
Hẹn ngày lành làm lễ kết hôn
Tô Định sẵn có lòng tham
Ao tù khát nước rồng vàng tắm chung.
Đức Vũ Công không kìm uất hận
Chửi mắng tên Tô Định bất nhân
Tô Định lệnh chém đầu ông
Sai quân sửa chiếc kiệu rồng đón dâu.
Được tin báo lòng đau như xé
Thục nương nhờ gửi mẹ nơi xa
Ung dung bước tới kiệu hoa
Trả lời dõng dạc ta đây sẵn sàng.
Nhận lễ vật nhà quan mang đến
Các ngươi mau đứng lui ra
Chỉnh tề khăn áo bước ra
Kiếm vung miệng thét chầu chẳng tha kẻ thù.
Quân Tô Định vây thành đứng phục
Thục Nương ra tới khúc sông Hồng
Thấy thuyền câu nhỏ bỏ không
Kiếm thay chèo lướt theo dòng về xuôi.
Bảy ngày đêm đội trời đạp nước
Rẽ sậy lau tìm chốn nương than
Tiên La cảnh ấy tĩnh tâm
Nấp sau Tam Bảo dần dần thiếp đi.
Lòng lo nghĩ thù nhà nợ nước
Bao dân lành chẳng được yên thân
Tiên La chiêu dụ nghĩa quân
Tích lương luyện kiếm cùng dân dẹp thù.
Trưng nữ vương nữ trung anh tú
Biết thục nương nữ chủ phất cờ
Sai quân mời hịch bấy giờ
Ba cây chụm lại lên gò núi cao.
Hợp nghĩa binh ba đào bảy động
Thục nương thời đại tướng tiên phong
Ra quân sấm động uy hùng
Dẹp tan quân giặc sắc phong Bát Nàn.
Ba năm giữ giang san đất nước
Quân Hán thời quen thói bạo tàn
Sai quân Mã Viện kéo sang
Lệnh truyền binh mã sẵn sàng xông pha.
Quân kéo về ngã ba đồng mỏ
Giặc ngông cuồng cờ đỏ vây quanh
Lệnh truyền hiệu triệu khắp thành
Thù nhà nợ nước quên mình xông pha.
Đêm thanh vắng canh ba lạnh lẽo
Hạt mưa rơi nặng trĩu ngàn cân
Gươm thề kiếm tuốt lồng tay
Lâm râm khấn nguyện đất dày trời cao.
Có thấu phận tơ đào liễu yếu
Hận thù nhà há chịu khoanh tay
Phạm Hương chàng hỡi có hay
Chứng cho lòng thiếp giãi bày hôm nay.
Khấn xong chầu đốt xác quân thù
Thung dung nhẹ bước trời vừa rạng đông.
Quân Mã Viện ầm ầm kéo tới
Bủa quân vây phơi phới cờ bay
Hùm thiêng gặp nước không may
Lẽ đâu lại để vào tay bạo tàn.
Lấy kiếm bạc thân đào tự sát
Gốc thông kia ghi tạc sử xanh
Bát Nàn đại tướng nổi danh
Tháng ba mười bảy năm Dần về tiên.
Anh linh rực rỡ vạn niên
Dấu thiêng ghi để lưu truyền đời sau
Đệ tử con khấu đầu vọng bái
Tiến văn chầu ôn lại tích xưa
Bao năm dầu dãi nắng mưa
Công ơn muôn thửở ngàn đời không phai.

Đùng đùng tiếng trống Mê Linh
Phất cờ khởi nghĩa uy danh hàng đầu
Binh thư đọc suốt đêm thâu
Ngày ngày luyện tập dãi dầu ba quân
Gươm thiêng sáng tỏ trung thần
Cờ hồng ra trận lẫy lừng một phen
Quân Tô Định lạc phách kinh hồn
Giặc nhà Đông Hán không còn một tên
Nước non độc lập vẹn toàn
Trưng Vương xưng chiếu gia ban
Trẻ già trai gái không quên
Ba năm độc lập giang sơn thái hoà
Thuận thời thiên hạ xướng ca
Binh nhung lại nổi can qua tức thì
Đức Bát Nàn và mười vệ sĩ
Đến bờ sông Hồng quyết tử quyết sinh
Tháng ba mười bảy Nhâm Dần
Hồn thiêng đã thác về đền Tiên La.

Canh hoa trang

Bản văn Chầu Bát số 4

Trấn nam thiên hải hà chung tú,
Khách má hồng ý chí trượng phu.
Sớm sinh gia cảnh liễu bồ,
Tấm gương tiết liệt thiên thu còn truyền.

Nhà họ Vũ vốn dòng hào phú,
Nơi sơn lâm mở hội muôn dân
Đi qua đỉnh núi non thần
Nhìn xem phong cảnh mọi phần thanh tân

Chợt thấy miếu Sơn Tinh Công chúa
Vốn từ xưa thượng cổ tối linh
Qua cơn loạn lạc đao binh
Gió mưa đổ nát cung đình vắng tanh

Lòng mộ đạo thành tâm sửa lại
Dựng đền thờ tiên thánh phong quang
Đền thờ điện ngọc trang hoàng
Rồng bay phượng múa cảnh càng hơn xưa

Sự báo ứng bấy giờ cũng chóng
Về Phượng Lâu thần mộng báo ngay
Làm con để chả ơn dày
Lại cho bè gỗ trăm cây lập đền

Chợt thấy bóng hoa hiên trước cửa
Gió hào thu tiên nữ hiện thân
Thánh bà từ ấy hiện thần
Ngày rằm tháng tám giờ dần định sinh

Vốn sinh ra hiền hòa nhan sắc
Thỏa so bằng vàng ngọc ai hơn
Văn thơ phú lục toàn tài
Cung tiên kiếm nguyệt khó ai sánh tày

Then định sắt tháng ngày ghi tạc
Quan Nam Chân xin bắc cầu ô
Ai ngờ bất nghĩa Chàng Tô
Tham hồng hám sắc mưu mô bạo tàn

Nhà họ Vũ mắc quan vi kế
Đức Vũ ông nhạc tế tình thâm
Tấm lòng chí huyết khôn cần
Hai hàng châu lệ đằm đằm tuôn rơi

Dân nghe nói phân minh uẩn khúc
Ai mà không tức ruột nóng gan
Trên thời phụng sự chay đàn
Ngoài thời luyện tướng trong thời khao quân

Ngôi cột rồng rêu xanh tự phủ
Sách ngàn thu tiên nữ còn ghi
Kiếm cung tập luyện quản gì
Đã cam tấc dạ liều thì một phen

Đôi song kiếm diệt quân xâm lược
Đánh kẻ thù hại nước hại dân
Đứng lên tập hợp nghĩa quân
Thù nhà nợ nước dẹp quân bạo tàn

Tiệc tháng ba vào ngày mười bảy
Công đức bà dân chúng chẳng quên
Tiên La xây điện lập đền
Nhớ ơn Chầu Bát thờ trên Thái Bình

Chầu vào chùa tụng kinh niệm phật
Độ muôn dân trăm họ bình an
Thanh bình nhớ lúc gian nan
Dâng văn tiên chúa Bát Nàn tướng quân

Canh hoa trang

Bản văn Chầu Bát số 5

Dâng văn tiên chúa Bát Nàn
Đền thờ Chầu Bát Tiên La
Hưng Hà là huyện, Đoan Hùng là thôn
Đền thờ Đại Tướng Bát Nàn-Tiên La

Thờ bà Đại Tướng Đông Nhung
Nữ trung oanh liệt, tiếng vang khắp vùng
Vào những năm nửa đầu thế kỷ
Năm bốn ba nửa trước Công Nguyên

Có người con gái thảo hiền
Quê người Bạch Hạc ở vùng Phượng Lâu
Tuổi thanh xuân như hoa đang nở
Đoá phù dung tên gọi Thục Nương

Mặt hoa vẻ tốt phi phương
Tiền duyên đã định hậu duyên nhỡ nhàng
Ghét quân Tô Định bạo tàn
Ghét phường cướp nước ngang tàng hại dân

Muốn cùng chầu kết duyên nhân
Lòng son đã quyết lìa thân cũng đành
Thân nữ nhi thù nhà nợ nước
Cùng Trưng Vương cất bước ra đi

kiếm cung tập luyện ngại gì
Đã cam tấc dạ liều thì một phen
Đôi song kiếm diệt quân xâm lược
Đánh kẻ thù hại nước hại dân

Đứng lên tập hợp nghĩa quân
Giúp dân cứu nước dẹp quân bạo tàn
Tiệc tháng ba vào ngày mười bảy
Công đức bà dân chúng chẳng quên

Tiên la xây điện lập đền
Nhớ ơn Chầu bát thờ trên Thái Bình
Ngôi đền thờ anh linh cổ tự
Nét son vàng rực rỡ tổ linh

Hôm nay tấu bản văn trình
Bát Nạn công chúa độ trì chứng minh

Trên đây là các bản văn Chầu Bát được chúng tôi sưu tầm và tổng hợp. Nếu còn thiếu sót gì, mong nhận được sự hoan hỉ từ quý bạn.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe, vạn sự như ý.

Các bản văn Tứ phủ Chầu Bà khác

Giới thiệu về Tác Giả

Nguyễn Hưng hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội. Mang trong mình lòng đam mê tìm hiểu văn hóa truyền thống, anh dành sự quan tâm đặc biệt cho lĩnh vực tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Với anh, tín ngưỡng không chỉ là nét đẹp văn hóa mà còn là sợi dây kết nối thế hệ, lưu giữ những giá trị tinh thần quý báu của dân tộc. Trên hành trình khám phá, Nguyễn Hưng luôn nỗ lực nghiên cứu, chắt lọc và chia sẻ những kiến thức bổ ích về tín ngưỡng Việt Nam đến với độc giả.